271 lượt xem

Nam Thí Chủ Tu-đạt-đa Cấp-cô-độc, Người Hộ Pháp Đắc Lực Trong Thời Đức Phật

Thích Trừng Sỹ

Giới Thiệu Khái Quát

Anathapindika,  (Pali: Anāthapiṇḍika; tiếng Phạn: Anāthapiṇḍada), tên thật của ông là Sudatta, một thương gia và chủ ngân hàng giàu có nhất ở Savatthi trong thời Đức Phật Gautama.

Ông được xem là người bảo trợ nam chính của  Đức Phật và Tăng Đoàn thời đó. Anathapindika thành lập tu viện Jetavana tại Savatthi, được coi là một trong hai ngôi chùa quan trọng nhất vào thời Đức Phật lịch sử, cái khác là Migāramātupāsāda.

https://www.youtube.com/user/Hoatraituhoc/videos

Mời Quý Vị xem các Bài Giảng Song Ngữ tiếng Việt và English

Anathapindika sinh ra trong một gia đình thương nhân giàu có nhất ở Savatthi với tên khai sinh là Sudatta, và là họ hàng của Subhūti, một trong những đệ tử chính của Đức Phật. Với tình thương lớn, Anathapindika là “người bố thí (piṇḍa) cho người nghèo, vô gia cư, không được bảo vệ (anātha).”

Anathapindika đã gặp Đức Phật khi đang đi công tác ở Rājagaha. Sau khi nghe anh rể kể về Đức Phật, Anathapindika chứng quả dự lưu (sotapanna), người nhập vào dòng thánh thứ nhất.

Tiểu Sử

Cuộc sống và gia đình

Anathapindika được sinh ra với tên Sudatta và là con trai của một thương nhân giàu có tên Sumana. Ông là họ hàng của Subhūti, người sau này trở thành một trong những đệ tử chính của Đức Phật, người được coi là quan trọng nhất và xứng đáng với những món quà quý giá.

Khi lớn lên, Suddatta kết hôn với người phụ nữ tên là Puññalakkhanā, em gái của một thương nhân giàu có ở Rājagaha.

Sudatta được biết như là một người làm việc từ thiện hào phóng ngay trước khi chính thức trở thành đệ tử cư sĩ của Đức Phật, và được công chúng biết đến với biệt danh “Anathapindika,” hay “một người bố thí cho những người không được bảo vệ,” vì tình thương của ông đã cho đi, mà không bao giờ ông nghĩ lấy lại. Anathapindika có một con trai, Kāla và ba con gái, Mahā-Subhaddā, Cūla-Subhaddā, và Sumanā. Con dâu của ông là Sujātā, em gái út của nữ đồng nghiệp của ông là Visakha.

Thời Gian Gặp Đức Phật 

Các Kinh văn Phật giáo mô tả cuộc gặp gỡ đầu tiên của Anathapindika với Đức Phật là ở Rājagaha. Trong khi đi công tác, Anathapindika đã đến thăm anh rể của mình, người đã là tín đồ của Đức Phật.

Khi đến nhà của anh rể, ông nhận thấy rằng gia đình đang chuẩn bị cho một bữa tiệc thịnh soạn, và nhầm tưởng đó là sự chuẩn bị cho một đám cưới hoặc một chuyến viếng thăm của nhà vua.

Khi Anathapindika hỏi về sự chuẩn bị, thì anh rể giải thích rằng họ đang chuẩn bị cho chuyến viếng thăm từ Đức Phật (Người giác ngộ hoàn hảo) và Tăng Đoàn. Khi nghe điều này, Anathapindika trở nên vui mừng khôn xiết, thốt lên rằng “Ý anh nói một con người giác ngộ đã có mặt ở thế gian này chăng?,” và ngay lập tức quyết định đi gặp người.

Ngày hôm sau Anathapindika tinh tấn dậy sớm để đi gặp Đức Phật. Ngay khi vừa tới tu viện, ông bổng nghe một tiếng gọi Sudatta, tên khai sinh của ông.

Ông nghĩ, “Người đang gọi mình chính là Đức Phật, người giác ngộ viên mãn.”

Khi Anathapindika gặp, đảnh lễ Đức Phật, ngồi qua một bên, và thỉnh Phật nói Pháp.  Nhân đó, Đức Phật nói Pháp Bốn Chân Lý Thánh cho Anathapindika, người đã đạt được thánh quả thứ nhất – Sotapanna ngay sau khi nghe Pháp. 

Tìm, mua đất, và xây dựng Tu Viện Kỳ Viên để Cúng Dường cho Đức Phật và Tăng Đoàn

Sau cuộc gặp gỡ tiếp theo của Anathapindika với Đức Phật, ông muốn bày tỏ tấm lòng hoan hỷ của mình để thỉnh mời và cúng dường cho Đức Phật và Tăng Đoàn một bữa ăn, Đức Phật đã chấp nhận, và sau đó, ông hoan hỷ phát tâm xây dựng và cúng dường một ngôi tu viện cho Đức Phật và Tăng Đoàn ngay tại quê hương Savatthi của ông, Đức Phật đã đồng ý.

Ít lâu sau, Anathapindika trở lại Savatthi để tìm kiếm một nơi thích hợp để xây dựng tu viện. Tìm kiếm một nơi vừa có thể tiếp cận và gần gũi cho những người tu học Phật Pháp, vừa yên tĩnh cho Đức Phật và Tăng đoàn, ông đi qua một công viên thuộc về thái tử Jeta, con trai của Vua Pasenadi của Kosala. Anathapindika đề nghị mua công viên từ hoàng tử nhưng hoàng tử từ chối.

Sau khi Anathapindika kiên trì thỉnh cầu thái tử, thái tử nói: “Tôi sẽ bán cho bạn công viên đó nếu bạn bao phủ nó bằng đồng tiền vàng.”

Thái tử nói như vậy để Anathapinkida không có khả năng mua nó. Nhưng với cái tâm sùng đạo và hộ trì Tam Bảo đắc lực, khi nghe những gì thái tử nói, Anathapinkika đồng ý mua nó bằng cách bảo người lót các đồng tiền vàng lên đất.

Sự đồng ý, chấp thuận, và quyết tâm của Anathapindika đã làm cho thái tử vô cùng ngạc nhiên và ngưỡng mộ tâm thuần thành của ông đối với Đức Phật, bậc giác ngộ viên mãn ở thế gian này.

Việc làm nhiệt tâm của thương gia Anathapinkida đã truyền cảm hứng sâu sắc tới thái tử Jeta.

Sau khi các đồng tiền vàng trải gần hết trên đất, những cây cối và phần đất còn lại, để góp phần và tạo thêm phần công đức, thái tử phát tâm cúng phần cây và phần đất chưa trải đồng tiền vàng, đề nghị xây tường xung quanh tu viện, và dùng cây gỗ sẳn có để làm cổng cho tu viện.

Sau đó, Anathapindika đã chi thêm vài triệu đồng tiền vàng để xây dựng ngôi tu viện và trang trí đồ đạc trong đó. Theo học giả người Đức Pali Hellmuth Heckler, doanh nhân Anathapindika cuối cùng đã chi khoảng ba phần năm tổng số tài sản của mình để mua đất và xây dựng ngôi tu viện được đặt tên là Jetavana (nghĩa đen là “Jeta’s Wood” hoặc “Jeta’s Grove”).

Trong kinh điển Phật giáo, Ngôi tu viện thường được gọi là “Tu viện của Anathapindika trong rừng của thái tử Jeta.” Cả thái tử và Anathapindika đều là hai ân nhân lớn của Đức Phật và Tăng Đoàn thời đó.

Người Bảo Trợ Chính

Cùng với nữ bảo trợ Visakha, Anathapindika không những là người bảo trợ chính hộ Pháp đắc lực cho Đức Phật và Tăng Đoàn, mà còn là người làm từ thiện bậc nhất cho những người neo đơn, nghèo khổ, không được bảo hộ, và không nơi nương tựa.

Ông thường xuyên gởi các vật phẩm cúng dường bao gồm  đồ ăn thức uống, thuốc men, đồ mặc, và đồ dùng hàng ngày cho Đức Phật và Tăng Đoàn mỗi khi Chư Vị ở tu viện hay đi khất thực hàng ngày tại nhà ông.

Khi ông đi vắng, ông nhờ người trong gia đình ông dâng phẩm vật cúng dường cho Đức Phật và tăng Đoàn.

Khi nào Đức Phật có mặt ở Savatthi, Anathapindika sẽ đến thăm Người một ngày hai lần. Mỗi lần gặp Đức Phật, Anathapindika nghe Pháp thoại từ nơi Đức Phật, phát nguyện thực tập năm điều đạo đức trọn vẹn. Sau đó, ông mời gọi và khuyến khích gia đình, bạn bè, nhân viên, và nhiều người đều làm tương tự như ông đã làm.

Anathapindika rất thông thạo và am hiểu về Phật Pháp, và cũng là một nhà biện luận xuất sắc.

Kinh điển Phật giáo mô tả một lần khi ông đến thăm một ngôi đền của truyền thống tôn giáo khác và một cuộc tranh luận đã xảy ra sau đó, Anathapindika đã khéo léo đánh bại những người theo truyền thống của tôn giáo khác.

Anathapindika và Visakha không chỉ là những nhà tài trợ lớn nhất, mà còn là trợ lý chính  cho Đức Phật và Tăng Đoàn khi tiếp xúc và đối phó với công chúng.

Mỗi khi Tăng Chúng bị người ta vu khống hay nhục mạ, thì một trong hai vị cư sĩ này trực tiếp liên lạc với chính quyền địa phương để giải quyết mọi việc tường tận và rõ ràng để đem lại bình an cho chốn thiền môn.

Cuộc gặp gỡ với Thần đất

Theo các văn bản, có một lần, Anathapindika đã mất một số lượng tài sản đáng kể trong trận lũ quét đã cuốn trôi số lượng vàng lớn của ông, và được giảm nghèo do tình thương của ông cho đi cũng như do cho bạn bè ông vay số tiền lớn.

Mặc dù vậy, Anathapindika vẫn tiếp tục bảo trợ và hỗ trợ Phật giáo, mặc dù khiêm tốn hơn. Người ta nói rằng sau đó ông đã trở lại địa vị giàu có của mình, tuy nhiên, nhờ sự giúp đỡ của một deva hoặc một vị thần.

Dựa trên các câu chuyện được ghi lại từ kinh điển Phật giáo, có một vị deva sống trong nhà của Anathapindika vào thời điểm đó. Theo luật lệ của vương quốc của ông, vị deva phải rời khỏi nơi ở của ông bất cứ khi nào Đức Phật hoặc một vị sư đang ở trong nhà, như một hình thức tôn trọng.

Bực mình vì điều này, deva xuất hiện trước Anathapindika và đề nghị ông nên giữ kho báu còn lại của ông và ngừng bảo trợ Phật giáo vì ông không còn giàu có nữa.

Kinh hoàng trước lời đề nghị của vị deva này, Anathapindika giải thích rằng kho báu duy nhất còn lại ông biết là để cúng dường cho Tam bảo; Đức Phật, Chánh pháp, và Tăng thân, và ông sẽ tiếp tục ủng hộ đạo Phật cho tới hơi thở cuối đời.

Anathapindika sau đó ra lệnh cho vị deva rời khỏi nhà của ông, nói rằng deva là kẻ không được chào đón và kẻ không biết tôn kính Đức Phật, buộc deva phải tìm một nơi ở mới để lưu trú.

Vị deva vô gia cư đã đến một số nhà chức trách, cuối cùng đến Sakka, vị vua của các deva ở Trāyastriṃśa, người đã đề nghị vị deva phải chuộc lỗi bằng cách lấy lại vàng đã mất của Anathapindika, thuyết phục các con nợ của Anathapindika để trả nợ, và bằng cách cho Anathapindika một kho báu bị chôn vùi, không có chủ nhân. Điều này dẫn đến việc Anathapindika trở lại giàu có, thậm chí ông ta giàu có hơn trước đây.

Câu chuyện về Kalakanni

Một câu chuyện nổi tiếng được mô tả trong các kinh điển Phật giáo là câu chuyện về Kalakanni. Kalakanni (tên của nó có nghĩa là “con chim không may mắn”) là một người bạn thời thơ ấu của Anathapindika, người nghèo khổ. Khi Kalakanni nhờ Anathapindika giúp đỡ, setthi đề nghị unlucky bird một việc tại nhà. Quyết định này đã gặp phản ứng dữ dội từ gia đình của Anathapindika, do địa vị thấp của Kalakanni và sự mê tín vào thời điểm tên của Kalakann là một điềm xấu. Tuy nhiên, Anathapindika đã bỏ qua sự mê tín và địa vị của người bạn unlucky bird, và đã cho người bạn này một công việc. Điều này cuối cùng đã làm việc có lợi cho gia đình, tuy nhiên, khi một nhóm trộm đã cố gắng cướp tài sản của Anathapindika khi thương gia đi công tác xa.

Khi sự cảnh giác của Kalakanni chú ý đến những tên trộm, người bạn unlucky bird của Anathapindika bắt đầu gây ra những tiếng động lớn để báo cho các tên trộm biết rằng trong gia đình có người và khiến chúng rời đi.

Lâm Chung

Đến tuổi vào xế chiều, Anathapindika không còn đủ sức khỏe nữa. khi bị bệnh, Anathapinkida được hai tôn giả Sariputta và Ananda đến thăm, hai trong số các đệ tử chính của Đức Phật. Tôn giả Sariputta đưa ra một bài giảng, khuyên Anathapindika tập trung vào việc buông bỏ tâm trí của mình ra khỏi sự bám víu và chấp thủ và quán chiếu cuộc đời là vô thường bằng cách mời Anathapindika lập lại như sau:

Namo Buddhaya

Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi

Dutiyampi buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Tatiyampi buddhaṃ saraṇaṃ  gacchāmi.

 Namo Dharmaya

Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Dutiyampi dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Tatiyampi dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Namo Sanghaya.

Saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Dutiyampi saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Tatiyampi saṅghaṃ saraṇaṃ  gacchāmi.

“Con về nương tựa Phật, người đưa đường chỉ lối từ bi và trí tuệ cho con trong cuộc đời.

Con về nương tựa Pháp, con đường của thực tập hòa bình, an vui, hạnh phúc, thương yêu, và hiểu biết.

Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người tu tập nguyện sống cuộc đời đạo đức, hòa hợp, và tỉnh thức cho số đông ngay trong cuộc sống hiện tại.”

“Đôi mắt này không phải của tôi, tôi không bám víu vào đôi mắt này.

Đôi tai này không phải của tôi, tôi không bám víu vào đôi tai này.

Lỗ mũi này không phải của tôi, tôi không bám víu vào lỗ mũi này.

Cái lưỡi này không phải của tôi, tôi không kẹt vào cái lưỡi này.

Cái thân này không phải của tôi, tôi không bám víu vào thân này.

Cái ý này không phải của tôi, tôi không bám víu vào cái ý này…”

Sau khi nghe bài Pháp thoại của tôn giả Sariputta,  Anathapindika vô cùng cảm động và bật khóc. Lúc đó, tôn giả Anada hỏi tại sao ông khóc.

“Con khóc vì con cảm nhận bài Pháp thoại này vô cùng sâu sắc. Con cung thỉnh hai tôn giả về thưa với Đức Phật, hàng cư sĩ chúng nên thường xuyên được nghe các bài Pháp thoại như thế để giúp cho thân tâm chúng con an vui và hạnh phúc ngay trong hiện đời,” Anathapindika trả lời.

Sau đó, hai tôn giả hoan hỷ chấp nhận lời thỉnh cầu của ông và ra về. Không lâu sau khi Sariputta và Ananda ra về, người nhà cho biết Anathapindika qua đời một cách nhẹ nhàng và an lạc.

Theo kinh điển Phật giáo, Anathapindika được tái sinh làm vị deva ở cõi trời Tusita, nơi đây ông đã gặp nữ đồng nghiệp Visakha và Sakka, vị vua của cõi trời Tavatimsa.

Di Sản

Anathapindika được coi là một trong những tín đồ mẫu mực nhất của đức tính rộng lượng của Phật giáo. Ông không chỉ thường xuyên cung cấp của bố thí cho người nghèo không dược bảo hộ và những nhu yếu cần thiết cho các Tăng Đoàn ở Jetavana, ông còn thỉnh mời hàng trăm vị Tăng Ni đến trú xứ của mình để cúng dường bữa ăn hàng ngày cho chư vị một cách vui vẻ.

Khi nhắc đến Anathapindika, Đức Phật nói rằng đối với một người tận tâm hoàn thiện đức tính quảng đại, không có gì ở đời có khả năng ngăn cản ông từ bỏ bố thí và hộ trì Tam Bảo.

Tình yêu cho đi của Anathapindika, kết hợp với một số bất hạnh, đã có lúc đưa ông đến sự nghèo khó. Ngay những lúc gặp khó khăn về vật chất và kinh tế, Anathapindika vẫn tiếp tục bảo trợ Phật giáo, mặc dù sự bảo trợ không nhiều như trước đây. Tuy nhiên, sự giàu có của ông đã được phục hồi lại là nhờ vào sức mạnh công đức của việc bố thí, cúng dường, và niềm tin chánh tín đối với việc hộ trì Tam Bảo.

Người làm việc từ thiện và bố thí giống như người có ngọn đèn sáng truyền ngọn đèn của mình tới nhiều người cùng sáng, nhưng ánh đèn của mình không bị lu mờ.

Sự hộ trì Tam Bảo và bảo trợ của Anathapindika có ảnh hưởng rất lớn tới Phật giáo trong thời Phật. Savatthi, quê hương của Anathapindika, được xem là trung tâm tu học tâm linh và phát triển Phật giáo rất quan trọng ở giai đoạn đầu, và là nơi có nhiều bài Kinh được Đức Phật đã giảng dạy cho Tăng Đoàn thời bấy giờ.

Nhiều hơn bất cư tu viện nào khác, trong suốt 45 năm hoằng dương chánh Pháp, chính nơi Savatthi Đức Phật đã trải qua 19 mùa An Cư tại tu viện Jetavana.

Tu viện Migāramātupāsāda (Đông-viên Lộc-mẫu) do nữ ân nhân Visakha bảo trợ. Tu viện Jetavana (Tinh-xá Kỳ-viên) do nam ân nhân Anathapindika bảo trợ.

Cả hai tu viện này đều ở Savatthi. Ở tu viện Migāramātupāsāda, trải qua 6 mùa An cư, ở tu viện Jetavana, trải qua 19 mùa An Cư, Đức Phật thường xuyên qua lại hai tu viện này để thuyết Kinh và giảng Pháp cho Tăng Đoàn khi Người lưu trú ở Savatthi. 

Sự hộ trì Tam Bảo của Anathapindika và Visakha truyền cảm hứng cho vua Pasenadi, một vị vua hùng mạnh nhất trong các vị vua thời đó, trở thành đệ tử tại gia của Đức Phật, ủng hộ Tăng Đoàn, và bảo trợ Phật giáo đắc lực.

Như vậy, để duy trì Tam Bảo đắc lực, khi một vị Phật giác ngộ viên mãn xuất hiện trên thế gian này, Người luôn luôn có những đệ tử thượng thủ thực hiện các vai trò khác nhau.

Trên đầu các cặp đệ tử xuất sĩ cũng như các đệ tử cư sĩ của Đức Phật Gautama, đối với các đệ tử xuất gia của Đức Phật gồm có:

Hai vị nam đệ tử A la hán thượng thủ là Sariputta và Moggallana

Hai nữ đệ tử A la hán thượng thủ là Khema và Uppalavanna.

Đối với các đệ tử cư sĩ gồm có:

Anathapindika là người bảo trợ nam quan trọng nhất và Visakha là người bảo trợ nữ quan trọng nhất của Đức Phật Gautama.

Kết Luận

Qua những gì học và thảo luận ở trên, chúng ta biết trong thời Đức Phật, Đức Phật hóa độ không những vua chúa, các nhà lãnh đạo tôn giáo, các nhà trí thức, v.v…,

mà còn các nhà doanh nghiệp, doanh nhân, thương gia giàu có tâm từ bi và trí tuệ trong tinh thần phụng sự đạo Pháp và nhân sinh đưa đạo Phật đi vào cuộc đời rất giá trị, hữu ích, và thiết thực ngay trong cuộc sống hiện tại.

 

 

Tham khảo

https://www.budsas.org/uni/u-capcodoc/capcodoc-00.htm

https://www.accesstoinsight.org/lib/authors/hecker/wheel334.html

https://www.tuvienquangduc.com.au/Danhnhanthegioi/75muoidetu12.html#C%C6%B0_s%C4%A9_C%E1%BA%A4P_C%C3%94_%C4%90%E1%BB%98C_

https://en.wikipedia.org/wiki/Anathapindika

 

 

Facebook Comments Box

Trả lời