467 lượt xem

Nghi Thức Tụng Kinh Di Giáo Song Ngữ

Thích Trừng Sỹ

NGHI THỨC TỤNG KINH DI GIÁO

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Tán Phật

Xinh tốt như hoa sen

Rạng ngời như Bắc đẩu

Xin quay về nương tựa

Bậc Thầy của nhân thiên.

Sen quý nở đài giác ngộ,

Hào quang chiếu rạng mười phương,

Trí tuệ vượt tầm pháp giới,

Từ bi thắm nhuần non sông,

Vừa thấy dung nhan Điều Ngự,

Tâm thành trọn lòng kính dâng,

Hướng về tán dương Tam Bảo,

Tinh chuyên đạo nghiệp vun trồng. (O)

Dâng Hương

Hương đốt khói trầm xông ngát

Kết thành một đóa tường vân,

Đệ tử đem lòng thành kính

Cúng dường chư Phật mười hương

Giới luật chuyên trì nghiêm mật

Công phu thiền định tinh cần

Tuệ giác hiện dần quả báu

Dâng thành một nén tâm hương.

Chúng con kính dâng hương giới, hương định, hương tuệ, hương giải thoát, hương giải thoát tri kiến lên chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư hiền thánh Tăng, chư hộ pháp, thiện thần, chứng minh lòng thành kính của chúng con. (O)

Kính đảnh lễ Phật Bảo

Phật bảo sáng vô cùng

Đã từng vô lượng kiếp thành công

Đoan nghiêm thiền tọa giữa non sông

Sáng rực đỉnh Linh Phong

Trên trán phóng hào quang rực rỡ

Chiếu soi sáu nẻo hôn mông

Long Hoa hội lớn nguyện tương phùng

Tiếp nối Pháp chánh tông

Về nương tựa Phật Bảo

Xin quy y thường trú Phật-đà-gia.

Đệ tử chúng con chí tâm kính lễ chư Phật thường trú trong ba đời và mười phương. (O, 1 lạy) 

Kính đảnh lễ Pháp Bảo

Pháp bảo đẹp vô cùng

Lời vàng do chánh Phật tuyên dương

Chư thiên trỗi nhạc tán hoa hương

Pháp mầu nhiệm tỏ tường

Ghi chép rõ ràng thành Ba Tạng

Lưu truyền hậu thế mười phương

Chúng con nay thấy được con đường

Về nương tựa Pháp Bảo

Xin quy y thường trú Đạt-mạ-gia.

Đệ tử chúng con chí tâm kính lễ chư Pháp thường trú trong ba đời và mười phương. (O, 1 lạy)

Kính đảnh lễ Tăng Bảo

Tăng bảo quý vô cùng

Phước điền hạt tốt đã đơm bông

Ba y một bát bước thong dong

Giới định tuệ dung thông

An trú đêm ngày trong chánh niệm

Thiền cơ chứng đạt nên công

Chúng con tất cả nguyện một lòng

Về nương tựa Tăng Bảo

Xin quy y thường trú Sanghaya.

Đệ tử chúng con chí tâm kính lễ chư Tăng thường trú trong ba đời và mười phương. (O, 1 lạy)

(Thiền tập 15 phút)

Khai Kinh

Pháp Phật cao siêu mầu nhiệm
Cơ duyên nay được thọ trì
Xin nguyện đi vào biển tuệ
Tinh thông giáo nghĩa huyền vi. (O)

TỤNG KINH DI GIÁO

(Kinh Giáo Huấn Vắn Tắt, Cốt Yếu, và Tối Hậu của Đức Phật Trước Khi Nhập Niết Bàn)

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chuyển vận bánh xe chánh Pháp, lần đầu tiên hóa độ tôn giả A-nhã Kiều-trần-như, và lần thuyết pháp cuối cùng, Đức Phật hóa độ tôn giả Tu-bạt-đà-la. Những người đáng được hóa độ, Ngài đã hóa độ tất cả. Vào đêm cuối trước khi nhập Niết-bàn, trong rừng Sa la, giữa cây song thọ giữa đêm khuya tĩnh mịch, không gian hoàn toàn tĩnh lặng không một tiếng động, Đức Phật đã nói tóm tắt những điều cốt yếu của chánh Pháp cho các đệ tử như sau:

“Này các đệ tử, sau khi Như lai diệt độ, các vị phải trân trọng tôn kính giới luật, như người nghèo khổ gặp được vàng ngọc, như người đi trong đêm tối gặp được ánh sáng, như kẻ đui mù mắt được sáng ra. Ý thức rằng giới luật là bậc thầy tốt nhất cho các vị; việc tu học, áp dụng, và thực hành giới luật vào trong đời sống hằng ngày là những việc làm thiết thực, giá trị, và hữu ích cho các vị; dẫu có sống nhiều năm ở đời đi chăng nữa, nhưng Như Lai cũng không ngoài mục đích khuyên dạy các vị về giới luật ấy mà thôi.” (C)      

Người xuất gia giữ gìn giới luật thì không nên buôn, bán, đổi chác, kinh doanh nhà cửa, đầu tư lâm nghiệp, nông nghiệp, hải sản, thủy sản, nuôi người, tôi tớ, và súc vật, theo kiểu thế tục, và không nên chặt đốn cây cối, đốt phá núi rừng, coi bói tướng số, thiên văn, ngày giờ tốt, xấu, xem sao giải hạn, và coi phong thủy; tất cả các việc nêu trên đều không thích hợp với các vị, hãy tránh xa chúng như tránh hố lửa. 

Do vậy, các vị nên sống tiết chế thân mạng, ăn uống điều độ, duy trì nếp sống thanh cao và giải thoát, không tham gia chính trị, lãnh đạo sứ mạng liên lạc chính trị, không được luyện bùa chú, chế linh dược, giao hảo với người bất thiện, và kết thân với kẻ ngạo mạn. Sống tinh cần, tỉnh thức, chánh niệm, tĩnh giác, vững chãi, và thảnh thơi trong từng giây từng phút để đạt được đạo quả giác ngộ và giải thoát, các vị không được che giấu lỗi lầm và bày vẻ những điều mê hoặc để quyến rũ quần chúng. Khi thọ nhận phẩm vật cúng dường của người đàn việt, các vị phải lượng phúc đức của mình, ít ham muốn, biết cách sống vừa đủ để hành đạo, không nên tích trữ tài sản để trổi dậy lòng tham.

Như lai vừa nói tóm tắt về việc giữ giới; Giới là nền tảng căn bản của sự giải thoát được mệnh danh là Ba-la-đề-mộc-xoa. Người giữ giới có thể sống cuộc đời an vui và hạnh phúc và có thể đem lại lợi ích cho tự thân và cho tha nhân ngay trong cuộc sống hiện tại. Nhờ giữ gìn giới luật, thiền định phát sinh, nhờ thực tập thiền định, trí tuệ phát sinh, và nhờ trí tuệ phát sinh, các vị có khả năng nhận diện và chuyển hóa khổ đau tốt đẹp. (C)

Này các đệ tử, việc giữ giới luật rất quan trọng và cần thiết cho đời sống của quý vị; Những ai giữ gìn tịnh giới tinh chuyên và hoàn hảo thì người đó có công đức và pháp lành, ngược lại, những ai giữ gìn tịnh giới không tinh chuyên và không hoàn hảo, thì công đức và pháp lành của họ không dễ phát sinh. Do đó, các vị nên biết rằng tịnh giới là chỗ yên ổn nhất, làm nơi trú ẩn an toàn cho mọi thứ công đức và pháp lành phát sinh.

Này các đệ tử, khi giữ gìn giới luật, thì các vị phải khéo léo chế ngự năm giác quan, không để cho chúng rong ruổi theo năm thứ dục lạc: tài năng, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, và ngủ nghỉ, như kẻ chăn trâu cầm roi không để cho trâu dẫm đạp và ăn lúa mạ của người. Một khi các vị sống phóng túng năm thứ giác quan, thì năm thứ dục lạc sẽ chế ngự và chi phối đời sống của các vị, như con ngựa hung hãn nếu không chế ngự bằng dây cương, thì nó sẽ mang con người lao xuống hầm hố. Nạn giặc cướp làm con người chỉ khổ một đời trong khi nạn giặc giác quan làm con người khổ đau trong nhiều kiếp. Do đó, các vị phải nên cẩn trọng tai hại của các giác quan, người có trí tuệ canh giữ các giác quan như canh giữ giặc không để cho chúng phóng túng và buông lung.

Này các đệ tử, trong năm giác quan của con người, tâm đóng vai trò quan trọng nhất. Tâm niệm lành sẽ đưa đến hành động lành và ý nghĩ lành, và tâm niệm không lành sẽ đưa đến hành động và ý nghĩ không lành; tâm niệm lành sẽ đưa đến lợi mình và lợi người, ngược lại, tâm niệm không lành sẽ đưa đến hại mình và hại người. Do vậy, các vị phải cố gắng phát triển tâm niệm lành để đem đến lợi lạc cho quần sinh, cẩn thận chế ngự tâm ý tà vậy của các vị. Tâm ý tà vậy rất là nguy hiểm, đáng sợ hơn thú dữ và rắn độc, như một người cứ say mê cầm chén mật trên tay và không để ý tới hầm hố và vực thẳm bên đường, như con voi điên mà không có móc sắc, như khỉ, vượn gặp rừng cây tha hồ tung tăng, nhảy nhót. Chế ngự được chúng thì thật là khó khăn. Do vậy, các vị cố gắng chế ngự tâm buông lung và bất thiện của mình. Để giữ gìn và phát triển các pháp lành, các vị thường xuyên quán chiếu tâm ý của mình bằng cách thực hành thiền tập và theo dõi hơi thở vào và hơi thở ra một các chánh niệm và tĩnh giác. Khi tâm mình định tĩnh và sáng suốt, thì lúc đó, các vị có thể giải quyết mọi thứ tốt đẹp, dễ dàng, thích hợp, và nhanh chóng.    

Này các đệ tử, khi thọ dụng đồ ăn thức uống của người thí chủ cúng dường, các vị nên xem chúng như thuốc, ngon không ham, dở không chê. Ăn uống vừa đủ để duy trì cơ thể cho khỏi đói khát, như con ong tìm hoa hút mật, hút xong rồi bay đi, nhưng nó không làm tổn thương hương sắc của hoa. Cũng vậy, người xuất gia khi thọ dụng vật thực cúng dường của người đàn việt chỉ đủ sức khỏe để tu học, không được tham cầu vật thực cúng dường quá nhiều sẽ làm tổn giảm niềm tin hộ pháp của người thí chủ. Khi thọ nhận vật chất cúng dường của người thí chủ, các vị hãy nỗ lực tu tập để tạo thêm công đức và tín tâm cho người đàn việt, ngược lại, nếu thọ nhận vật phẩm cúng dường của người đàn việt, các vị không siêng năng tu tập, thì phước đức của người nhận sẽ bị tổn giảm, và phước đức của người cho sẽ không tăng trưởng. Là người có trí, các vị hãy thường xuyên quán chiếu như vậy một cách khéo léo trong việc thọ nhận vật chất cúng dường của người đàn việt để đem lại lợi ích cho tự thân và cho tha nhân ngay trong cuộc sống hiện tại. (C)

Này các đệ tử, ban ngày, các vị nỗ lực tu tập pháp lành, không để thời gian trôi qua lãng phí, đầu đêm, cuối đêm, các vị siêng năng tụng niệm, giữa đêm, các vị hành trì thiền định để nạp thêm bình điện tâm linh, tăng trưởng điều lành, và chuyển hóa điều ác. Ngủ nghỉ quá nhiều sẽ làm cuộc đời trở nên vô ích, hãy nên nhớ rằng ngọn lửa vô thường đang đốt cháy đời người, và hãy tinh tấn lên để tự cứu mình. Con ma ham ngủ và lười biếng dữ hơn kẻ thù luôn luôn rình rập và giết hại cuộc đời. Hãy cảnh giác phiền não đang ngủ ngầm trong tâm, như cảnh giác con rắn độc đang nằm trong góc nhà. Hãy dùng móc sắt giới hạnh, thiền định, tinh tấn, chánh niệm, và tỉnh thức để kéo nó ra. Khi rắn độc ra rồi, thì các vị mới yên tâm ngủ nghỉ, nếu rắn độc chưa ra, các vị cứ say mê ngủ nghỉ, thì điều đó giống như là kẻ không biết hổ thẹn.

Hãy ý thc thc tp các cm giác h thn; cm giác h thn là th trang sc đp nht trong mi th trang sc.  Người biết hổ thẹn có khả năng chế ngự các pháp bất thiện. Thế cho nên, các vị đừng bao giờ bỏ quên và đánh mất tâm hổ thẹn; tâm hổ thẹn vừa là đức tính tốt, vừa là bùa hộ mạng có giá trị và hữu ích cho cuộc đời. Đánh mất tâm hổ thẹn là đánh mất tất cả pháp lành, người có tâm hổ thẹn thì có thể tạo ra nhiều công đức và pháp lành, và người không có tâm hổ thẹn là người thiếu tu, không thể tạo ra công đức và pháp lành trong cuộc sống.

Này các đệ tử, nếu ai đó làm xúc phạm thanh danh, danh dự, và uy tín của mình, thì các vị phải khéo léo theo dõi hơi thở chánh niệm bằng cách giữ gìn lời nói xây dựng, hòa hợp, và hòa giải, nhớ kiềm chế tự thân đừng để tâm mình nổi lên cơn giận dữ và bực tức, nó sẽ thiêu cháy hết rừng công đức và sự nghiệp tu tập và đạo Pháp của các vị. Người nào chế ngự tâm nóng giận, thì người đó có thể thực tập đức tính kham nhẫn. Người nào thực tập đức tính kham nhẫn tốt đẹp, người đó không những được gọi là người trí, mà còn là người có sức mạnh vô song, như người uống nước cam lồ có khả năng giúp mình bớt khát nước. Người nào không thực tập đức tính kham nhẫn, lửa sân không những đốt cháy người đó, mà còn đốt cháy tất cả các công đức và pháp lành của họ, sự sân giận còn dữ hơn lửa cháy rừng, hãy cẩn thận chế ngự tâm sân giận. Trong tất cả các loại giặc cướp công đức, lửa sân giận là loại giặc nguy hiểm nhất trong đời.

Người thế gian sống, vẫn còn bon chen, tranh đua, hưởng thụ các dục lạc, thiếu phương pháp thực tập, và chế ngự tính khí nóng nảy của họ, nếu họ sân giận thì có thể tha thứ họ được. Tuy nhiên, các vị là người xuất gia tu học và hành đạo có phương pháp tu tập, có thể loại bỏ các dục vọng và thú vui trần tục ở đời, nếu không chuyển hóa được sân giận, thì các vị thật là kẻ đáng trách, cũng giống như bầu trời quang đãng, mà có sấm sét nổi lên, điều đó là điều không thích hợp. 

Này các đệ tử, khi trở thành người xuất sĩ, cạo bỏ râu tóc, các vị hãy tự xoa đầu mình và nhớ rằng: Không sử dụng mỹ phẩm và đồ trang sức thế gian, các vị khoác trên mình chiếc áo ca sa hoại sắc, tay bưng bình bát để đi khất thực, và dùng đồ ăn khất thực, thiền định, chánh niệm, và tỉnh thức để nuôi dưỡng và kiểm soát thân tâm. Khi tâm lý kiêu ngạo nổi lên, thì các vị ý thức nhận diện và chế ngự nó, bởi vì kiêu ngạo là một trong những tâm lý tiêu cực, những ai có tâm ý kiêu ngạo và ngã mạn, thì nó sẽ đốt cháy quý vị. Ý thức việc ấy, là người xuất gia nguyện sống cuộc đời an vui, tự tại, và giải thoát, thì các vị nên tu tập Phật Pháp để nhận diện và chuyển hóa chúng.

Này các đệ tử, các vị phải canh chừng tâm lý a dua và nịnh bợ, nó có thể làm chướng ngại cho việc tu tập, giải thoát, và các công tác Phật sự của mình. Để ngăn ngừa tâm lý a dua và nịnh bợ, các vị thường xuyên thực tập hạnh khiêm nhường, khiêm cung, chân chánh, và chính trực, đó là cách tốt nhất phát triển khả năng và trình độ tu học của mình, góp phần hoằng dương chánh Pháp ngay tại thế gian này. (C)

Này các đệ tử, các vị nên biết một khi tâm tham muốn và nhu cầu lợi dưỡng càng nhiều, thì khổ não và dục vọng càng tăng, ngược lại, một khi tâm tham muốn và nhu cầu lợi dưỡng càng ít, thì khổ não và dục vọng càng giảm. Những ai có ít tham muốn thì họ không bị tâm dua nịnh chế ngự và chi phối, sống cuộc đời nhẹ nhàng và thanh thản, có thể hướng tới an vui và hạnh phúc ở hiện đời. Những ai thực tập hạnh biết đủ, thì họ có thể chế tác ra nhiều công đức và chế ngự tâm tham muốn và khổ não, thân tâm của họ không bị các giác quan và ngoại cảnh chi phối. Thực tập hạnh ít ham muốn và biết đủ, các vị có thể đạt được hạnh phúc ngay trong hiện đời.

Này các đệ tử, nếu muốn nhận diện và chuyển hóa khổ đau một cách hiệu quả, các vị phải thường xuyên học hạnh biết đủ; học hạnh biết đủ có khả năng giúp các vị sống cuộc đời nhẹ nhàng, thanh thản, và yên ổn. Người biết đủ thì nằm trên đất cảm thấy tự tại, an vui, và hạnh phúc, ngược lại, người không biết đủ dù nằm ở thiên đường, họ vẫn cảm thấy thiếu thốn, lo âu, và sầu muộn. Người biết đủ thì sống cuộc đời an lạc, nhẹ nhàng, tự tại, và thoải mái, không bị ngoại cảnh và vật chất lôi kéo, ngược lại, người không biết đủ thì bị tràn ngập mưu toan, lo lắng, phiền muộn, và khổ đau, luôn bị năm thứ dục lạc: tài, sắc, danh, thực, thùy chế ngự và lôi kéo. Do vậy, để sống cuộc đời tự do, an vui, và hạnh phúc, các vị nên cố gắng sống cuộc đời biết đủ và ít tham muốn.

Này các đệ tử, để sống cuộc đời thanh thản và an lạc, thì các vị phải xa lánh những nơi ồn ào, náo nhiệt, và những hội chúng đông người. Những ai sống cuộc đời yên tĩnh bằng thiền tập thì họ sẽ được chư thiên và loài người tôn kính. Ở đơn độc một mình làm chủ được thân tâm bằng chánh niệm và tĩnh  giác, thì các vị có khả năng nhận diện và chuyển hóa khổ đau. Sống chung với những hội chúng đông người, và những chỗ ồn ào và náo nhiệt, thì các vị dễ dàng bị họ quấy nhiễu, như cây đại thọ mà có nhiều chim chóc tụ tập, thì chúng sẽ làm thiệt hại hư cành. Những ai tham đắm dục lạc ở đời thì họ sẽ bị thế gian ràng buộc và chi phối, như voi già yếu mà sa xuống bùn thì khó mong lên khỏi bùn lầy. Ý thức rõ việc ấy, để đoạn trừ phiền não, thì các vị nên tránh xa những hội chúng đông người, ồn ào, và náo nhiệt bằng cách sống những chỗ yên tĩnh và vắng lặng để làm chủ thân tâm trong chánh niệm và tĩnh giác.

Này các đệ tử, trong quá trình tu học, các vị cố gắng thực tập chánh tinh tấn để đạt được an vui và hạnh phúc ngay trong cuộc đời. Nếu không thực tập chánh tinh tấn, thì các vị sẽ gặp khó khăn và chướng ngại cho việc tu tập. Người tu tập có chánh tinh tấn, giống như giọt nước thường xuyên nhỏ xuống hòn đá lâu ngày, hòn đá có thể bị thủng, ngược lại, người tu tập không có chánh tinh tấn thường biếng nhác thì cũng giống như người cọ cây lấy lửa, cây chưa nóng, lửa chưa có, mà họ đã dừng, dù họ mong cầu có lửa, nhưng lửa không bao giờ tìm thấy. Do đó, các vị hãy siêng năng thực tập chánh tinh tấn để đem lại lợi lạc cho nhiều người. (C)

Này các đệ tử, trên lộ trình tu học, những vị thiện tri thức và những vị hộ pháp đắc lực là những người tốt có khả năng giúp đỡ các vị thành tựu trong cuộc đời. Mặc dù nương vào họ để học hỏi những điều hay ý đẹp, và những kinh nghiệm sống tốt đẹp từ nơi họ, nhưng các vị đừng bao giờ bỏ quên thực tập chánh niệm hằng ngày. Quên thực tập chánh niệm hằng ngày thì phiền não sẽ dễ dàng xâm nhập và chế ngự thân tâm, các vị sẽ đánh mất tất cả công đức và pháp lành. Ý thức được việc ấy, hằng ngày các vị thường xuyên thực tập chánh niệm và tĩnh giác để nhận diện và chuyển hóa thân tâm. Người thực tập chánh niệm một cách vững chãi thì không sợ năm thứ dục lạc: tài, sắc, danh, thực, thùy chế ngự và chi phối các vị, như người chiến sĩ vào trận mặt áo giáp che thân không sợ cung tên của kẻ thù. Đó là hạnh thực tập chánh niệm và tĩnh giác.

Này các đệ tử, nhờ thực tập và duy trì chánh niệm và tĩnh giác, nên các vị dễ dàng hướng tới thiền định và nhất tâm. Tinh tấn tu tập thiền định, các vị có thể làm chủ được tâm và thấu triệt trạng thái sinh diệt của tâm và chuyển biến của thế giới. Lúc này, những dao động, tạp niệm, và tán loạn của tâm sẽ được nhận diện và chuyển hóa, tuệ giác được chiếu vào. Người tu tập thiền định giỏi, trí tuệ phát triển nhanh như người giữ đê vững chắc thì nước trong đê dâng tràn. Đó là hạnh tu tập thiền định.

Này các đệ tử, khi tu tập thiền định được thuần thục, các phiền não được chuyển hóa và đoạn trừ, thì tâm giải thoát và tuệ giải thoát trở nên bừng sáng, tuệ giác liền sinh khởi. Tuệ giác được ví như chiếc thuyền vững chắc nhất vượt qua biển sinh tử, như ánh sáng mặt trời phá tan màn vô minh, như thần dược trị liệu cho kẻ bệnh tật, như lưỡi búa kim cương chặt đứt cây phiền não. Muốn có được tuệ giác chân thật, các vị cần phải trải qua quá trình tu tập “văn tuệ, tu tuệ, và tư tuệ” để đem lại lợi ích cho tự thân và cho tha nhân ngay trong cuộc sống hiện tại. Người có trí tuệ bao giờ cũng có chánh kiến, thấy rõ được sự thật của sự vật, sáng tỏ như ánh sáng ban ngày. Đó là hạnh trí tuệ. (C)

Này các đệ tử, trong đời sống tu tập hằng ngày, nếu các vị sử dụng hý luận, thì tâm các vị sẽ bị tán loạn; người xuất gia sống cuộc đời hý luận sẽ bị thế gian chê cười và chỉ trích, không đưa đến trí tuệ và giải thoát. Từ bỏ hý luận, các vị sẽ hướng tâm đến tịch tĩnh, an vui, và hạnh phúc ngay trong hiện đời. Đó là hạnh không hý luận.

Này các đệ tử, hãy thường xuyên làm điều thiện, nói điều thiện, và nghĩ điều thiện để tạo thêm công đức lành, hãy thực tập chánh tinh tấn và kham nhẫn để tránh phóng dật và biếng nhác như tránh kẻ thù. Thể hiện lòng đại bi, đại trí, và đại dũng, Như Lai đã tuyên thuyết chánh Pháp rất thiết thực, hiện tại, và hữu ích để làm lợi lạc cho quần sinh. Do đó, các vị ở một nơi thích hợp của mình tinh tấn tu tập, hành trì chánh Pháp, quán chiếu sự sống, đừng để đời mình trôi đi vô ích, sau này ăn năn, hối hận đã muộn. Như Lai là Vị Lương Y biết bệnh từng người cho thuốc; uống hay không uống là không phải lỗi của Vị Lương Y. Như Lai là vị đạo Sư tâm linh chỉ đường tốt cho các vị; nếu quý vị nghe rồi mà không đi, thì đó không phải là lỗi của người chỉ đường. (C)

“Này các đệ tử, đối với Bốn Chân Lý Thánh, nếu có chỗ nào chưa rõ thì các vị nên thưa hỏi, không nên ôm giữ trong lòng mà không nghi vấn, Như Lai sẽ giảng dạy cho các con những vấn đề chưa rõ.” Sau khi Đức Thế Tôn đã khuyên nhắc ba lần như vậy, chúng đệ tử đều im lặng, không một ai còn thắc mắc gì nữa. Lúc bấy giờ, Tôn giả A-nậu-lâu-đà (Anuruddha) bạch với Đức Phật rằng:

Bạch Đức Thế Tôn, dù mặt trăng có thể nóng lên, mặt trời có thể lạnh đi, nhưng Bốn Chân Lý Thánh mà Đức Phật đã tuyên thuyết thì không bao giờ có thể thay đổi được.

Bốn Chân Lý Thánh gồm có Khổ Thánh Đế, Khổ Tập Thánh Đế, Khổ Diệt Tập Thánh Đế, và Khổ Diệt Đạo Thánh Đế. 

Khổ Thánh Đế là thực trạng của khổ đau: sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, những gì mong muốn nhưng không được là đau khổ, thù ghét mà gặp mặt nhau là khổ, thương yêu nhau mà phải chia lìa là khổ, chấp vào năm nhóm thân tâm là khổ.

Khổ Tập Thánh Đế là nguyên nhân khổ đau gồm có tham, sân, si, mạn, nghi, vô minh, tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, và tà định.

Khổ Diệt Tập Thánh Đế là Niết-bàn, trạng thái an lạc, hạnh phúc tối thượng, chấm dứt mọi nguyên nhân của khổ đau.

Khổ Diệt Đạo Thánh Đế vừa là Trung Đạo xa lánh hai cực đoan: khổ hạnh ép xác và tham đắm dục lạc; vừa là Con Đường Bát Chánh bao gồm đạo đức, thiền định, và trí tuệ tương tức mật thiết với cái thấy chân chánh, tư duy chân chánh, lời nói chân chánh, hành động chân chánh, nghề nghiệp mưu sinh chân chánh, siêng năng chân chánh, nhớ nghĩ chân chánh, nhận diện, dừng lại, và chuyển hóa chân chánh. Con đường này rất thiết thực, hiện tại, và hiệu quả có khả năng đưa con người tới an vui và hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây ngay trong cuộc sống hiện tại. (C)

Bạch Đức Thế Tôn, đối với Bốn Chân Lý Thánh, Như Lai đã giảng dạy xong, trong chúng đây, không còn một ai thắc mắc gì nữa.

Lúc bấy giờ, có những vị chưa có đủ duyên lành tu học Phật pháp nghe Đức Thế Tôn sắp nhập niết bàn, tâm của họ sinh sầu thảm. Có những vị mới vào đạo đầy đủ duyên lành nghe những lời dạy cốt yếu của Đức Phật, tâm của họ sinh hoan hỷ hiểu rõ được chánh Pháp, như người đi trong đêm tối, gặp được ánh sáng, thấy rõ đường đi lối về. Cũng có những vị đã giác ngộ chánh Pháp, đoạn trừ phiền não, xa lìa bể khổ, ngậm ngùi và thốt lên rằng: “Sao Đức Thế Tôn nhập diệt nhanh chóng như vậy.” Hiểu rõ được tâm ý của mọi người, vì lòng đại bi thương tưởng, Đức Phật khuyên bảo chúng đệ tử thêm rằng:

Này các đệ tử, chớ có sầu thảm, chớ có buồn rầu. Theo quy luật vô thường, dù sống ở đời hơn một kiếp đi chăng nữa, nhưng cuối cùng, Như Lai sẽ phải nhập Niết-bàn. Có hợp thì phải có tan, có tụ thì phải có tán. Kết hợp mà không tan rã, hội tụ mà không chia lìa, là điều không thể có được. Sau khi Như Lai nhập diệt, các vị hãy lấy chánh Pháp làm thầy tốt nhất cho các vị, hãy dùng chánh Pháp làm chỗ nương tựa tốt nhất cho các vị, hãy thực hành chánh Pháp để đem làm lợi ích cho tự thân và cho tha nhân ngay trong cuộc sống hiện tại. Nếu Như Lai sống lâu ở đời, các vị không thực hành chánh Pháp tốt đẹp, thì điều đó chẳng có đem lợi ích gì cho các vị cả. Tới giờ phút này, những chúng sinh có đủ duyên lành, Như Lai đã hóa độ tất cả. Những chúng sinh chưa đủ duyên lành, Như Lai đã tạo các duyên thuận lợi để cho họ được độ. Từ nay trở đi, các vị siêng năng thực hành chánh Pháp là xem Pháp thân của Như Lai đã tồn tại mãi mãi ở đời.  

Này các đệ tử, các vị nên quán chiếu rằng mọi hiện tượng và vật chất trên thế gian này đều là vô thường và chuyển biến, có kết hợp thì có tan rã, đừng lo buồn gì cả. Cuộc đời là như thế; các vị phải nỗ lực tinh tấn để đạt được giác ngộ và giải thoát, dùng ánh sáng tuệ giác để diệt trừ bóng tối vô minh. Muôn sự và muôn vật đều mong manh và không bền chắc. Sinh, già, bệnh, chết đều có mặt trong thân vật lý này. Có sinh là có diệt, có sống là có chết, đó là quy luật vô thường. Từ bỏ thân vật lý này như đặt gánh nặng xuống đất, các vị hãy giữ tâm yên lặng, bây giờ là lúc Như Lai nhập diệt. Các vị hãy tinh tấn thực hành chánh Pháp nhiều hơn nữa để đem lại lợi ích cho quần sanh; đây là những lời dạy tối hậu của Ta cho các người. 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

(3 lần, Chuông)

Tâm Kinh Tuệ Giác Qua Bờ

Avalokita, khi quán chiếu sâu sắc
Với tuệ giác qua bờ,
Bỗng khám phá ra rằng:
Năm uẩn đều trống rỗng.
Giác ngộ được điều đó,
Bồ-tát vượt ra được
Mọi khổ đau ách nạn.
Này Śāriputra,
Hình hài này là không,
Không là hình hài này;
Hình hài chẳng khác không,
Không chẳng khác hình hài.
Điều này cũng đúng với
Cảm thọ và tri giác,
Tâm hành và nhận thức.
“Này Śāriputra,
Mọi hiện tượng đều không,
Không sinh cũng không diệt,
Không có cũng không không,
Không dơ cũng không sạch,
Không thêm cũng không bớt.

Cho nên trong cái không,
Năm uẩn đều không thể
Tự riêng mình có mặt.
Mười tám loại hiện tượng

Là sáu căn, sáu trần
Và sáu thức cũng thế;

Mười hai khoen nhân duyên
Và sự chấm dứt chúng
Cũng đều là như thế;

Khổ, tập, diệt và đạo
Tuệ giác và chứng đắc
Cũng đều là như thế. (O)
Khi một vị bồ-tát
Nương tuệ giác qua bờ
Không thấy có sở đắc
Nên tâm hết chướng ngại.
Vì tâm hết chướng ngại
Nên không còn sợ hãi,
Đập tan mọi vọng tưởng,
Đạt niết-bàn tuyệt hảo.
Chư Phật trong ba đời
Nương tuệ giác qua bờ
Đều có thể thành tựu
Quả chánh giác toàn vẹn.

Vậy nên phải biết rằng
Phép tuệ giác qua bờ
Là một linh chú lớn,
Là linh chú sáng nhất,
Là linh chú cao tột,
Không có linh chú nào
Có thể so sánh được.

Là tuệ giác chân thực

Có khả năng diệt trừ

Tất cả mọi khổ nạn.

Vậy ta hãy tuyên thuyết

Câu linh chú qua bờ:

Gate, gate, pāragate, pārasamgate, bodhi, svaha.”

(3 lần, O)

Vượt qua, vượt qua, khéo vượt qua, vượt qua tới bờ bên kia, đạt giác ngộ vui lắm thay.”

(3 lần, O)

Nương Tựa Phật Bảo

Con về nương tựa Phật, Người đưa đường chỉ lối từ, bi, và trí huệ cho con trong cuộc đời.

Đã về nương tựa Phật, con đang có hướng đi sáng đẹp cho con trong cuộc đời.

Về nương Phật trong con, xin nguyện cho mọi người, thể nhận được giác tính, sớm mở lòng Bồ-đề. (O)

Nương Tựa Pháp Bảo

Con về nương tựa Pháp, con đường của thực tập hòa bình, an vui, hạnh phúc, thương yêu, và hiểu biết cho số đông ngay trong cuộc sống hiện tại.

Đã về nương tựa Pháp, con đang học hỏi và tu tập con đường Thánh gồm có đạo đức, thiền định, và trí tuệ tương tức mật thiết với chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Về nương Pháp trong con, xin nguyện cho mọi người, nắm vững các pháp môn, cùng lên đường chuyển hóa. (O)

Nương Tựa Tăng Bảo

Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người tu tập nguyện sống cuộc đời đạo đức, hòa hợp, và tỉnh thức cho tự thân và cho tha nhân ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại.

Đã về nương tựa Tăng, con đang được Tăng thân soi sáng, dìu dắt, và nâng đỡ trên con đường thực tập.

Về nương Tăng trong con, xin nguyện cho mọi người, xây dựng nên bốn chúng, nhiếp hóa được muôn loài. (O)

Hồi Hướng

Trì tụng Kinh thâm diệu

Tạo công đức vô biên

Đệ tử xin hồi hướng

Cho chúng sinh mọi miền

Pháp môn xin nguyện học

Ơn nghĩa xin nguyện đền

Phiền não xin nguyện đoạn

Quả Phật xin chứng nên.

Nguyện sanh về Tịnh Độ

Sen nở thấy vô sanh

Chư Bụt và Bồ Tát

Là những bạn đồng hành.

Nguyện dứt hết phiền não

Cho trí tuệ phát sanh

Cho tội chướng tiêu tán

Quả giác ngộ viên thành. (O)

Phát nguyện tinh tấn và lạy tạ ơn Tam Bảo

Đệ tử Gotama, luôn luôn tự tỉnh thức, không luận ngày hay đêm, thường tưởng niệm Phật Đà. Nam Mô Phật Đà Da.

(O, 1 lạy)

Đệ tử Gotama, luôn luôn tự tỉnh thức, không luận ngày hay đêm, thường tưởng niệm Chánh Pháp. Nam Mô Đạt Mạ Da.

(O, 1 lạy)

Đệ tử Gotama, luôn luôn tự tỉnh thức, không luận ngày hay đêm, thường tưởng niệm Tăng Đoàn. Nam Mô Sanghaya.

(O, 1 lạy)

Bồ đề diệu pháp biến trang nghiêm.

Tùy theo chỗ ở thường an lạc.

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sinh

Đều trọn thành Phật đạo. (O)

Thích Trừng Sỹ dịch và biên soạn

 

Rite of Chanting the Bequeathed Teaching Sutra

Facebook Comments Box

Trả lời