HT. Thích Như Điển Tâm Nhơn Thích Giác Nghĩa Thích Trừng Sỹ

HOÀ THƯỢNG THÍCH NHƯ ĐIỂN HẠT NHÂN TỈNH THỨC NƠI MIỀN ĐẤT KHÁCH
Hòa thượng Thích Như Điển là một trong những bậc cao Tăng tiêu biểu của Phật giáo Việt Nam hải ngoại, có công lớn trong việc kiến lập và phát triển Phật giáo Việt Nam tại châu Âu. Với giới đức trang nghiêm, trí tuệ uyên thâm và tầm nhìn chiến lược, Ngài đã xây dựng Tổ đình Viên Giác Hannover trở thành một trung tâm hoằng pháp, giáo dục và văn hóa Phật giáo có tầm ảnh hưởng quốc tế; đào tạo nhiều thế hệ Tăng Ni và học giả, đồng thời tiếp nối sự nghiệp phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam. Cuộc đời hoằng pháp của Ngài là biểu tượng của tinh thần dấn thân, phụng sự và hội nhập, để lại một di sản bền vững, tiếp tục soi sáng và truyền trao tuệ giác cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Most Venerable Thích Như Điển – A Beacon of Awakening in a Foreign Land
Trong biên niên sử Phật giáo Việt Nam hải ngoại, Thầy là một trong những bậc chân tu thể hiện sự khế hợp viên dung giữa giới hạnh tinh nghiêm và tầm nhìn chiến lược vĩ mô. Thầy, một bậc “tòng lâm thạch trụ“, đã cắm rễ những giá trị Minh triết Đông phương vào nền tảng lý tính phương Tây. Là một tu sĩ trẻ, nhìn lại hành trạng của Thầy, chúng con không chỉ thấy câu chuyện của một cá nhân, mà là sự phản chiếu của một tiến trình lịch sử, sự chuyển hóa từ một tôn giáo truyền thống sang một đạo học khai phóng, phù hợp với nhịp sống và cấu trúc tư duy của nhân loại đương đại.
Thầy sinh ngày 28.06.1949, một thời điểm mà đất nước đang trong giai đoạn chuyển mình đầy biến động. Xuất thân từ vùng đất địa linh nhân kiệt Quảng Nam, hạt giống Bồ-đề nơi Thầy được tưới tẩm dưới tòa ân sư Hòa thượng Thượng Long hạ Trí tại Tổ đình Viên Giác (Hội An) vào năm 1964. Dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh với cốt cách nghiêm mật chính là chiếc nôi đã hun đúc nên một bậc xuất gia có chiều sâu nội tâm tĩnh lặng.

Tuy nhiên, cuộc đời Thầy không chỉ giới hạn trong sự tĩnh tại của thiền phòng. Sự học của Thầy là sự học của một bậc trí giả: từ Chúc Thánh, Long Tuyền đến Hưng Long, Thầy đã thâm nhập sâu vào kho tàng kinh điển. Năm 1972, sự kiện du học Nhật Bản là bước ngoặt mang tính bản lề.
Tại đây, Thầy không chỉ thụ hưởng nền giáo dục hàn lâm mà còn thực hiện một cuộc “đối thoại liên văn hóa”. Sự thông thạo Hán ngữ, Nhật ngữ, Anh ngữ và Đức ngữ không đơn thuần là kỹ năng ngôn ngữ, mà là phương tiện để Thầy giải mã các cấu trúc triết học của phương Đông và phương Tây. Đây chính là tiền đề để Thầy thực hiện cuộc “viễn chinh” sang Đức Quốc vào năm 1977 theo nhân duyên từ Phật tử Văn Công Trâm, không phải là một sự ngẫu nhiên, mà là sự dấn thân của một “hành giả không biên giới”, sẵn sàng gieo hạt giống tuệ giác trên mảnh đất mới. Một quyết định thể hiện nhãn quan của bậc đại thiện tri thức, thấy rõ sự cần thiết của việc gieo hạt giống Chánh pháp tại nơi mà ánh sáng trí tuệ cần được chiếu soi hơn bao giờ hết.

Năm 1978, khi Niệm Phật Đường Viên Giác tại Hannover ra đời, đó không chỉ là sự hiện diện của một kiến trúc tâm linh, mà là sự xác lập của một “thực tại” mới cho cộng đồng người Việt tại Đức. Trong triết học Phật giáo, Trung đạo không phải là sự thỏa hiệp, mà là sự thấu thị sự tồn tại của vạn pháp trong trạng thái Tương tức.
Thầy đã khéo léo vận dụng tinh thần Tùy duyên bất biến. Thầy hiểu rằng, Phật giáo hải ngoại không thể là một bản sao chép thụ động của quê nhà, mà phải là một sự “tái cấu trúc” để hòa nhập vào đời sống phương Tây nhưng vẫn giữ trọn vẹn bản sắc. Chi bộ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại Đức Quốc ra đời được Chính quyền Cộng hòa Liên bang Đức công nhận là tổ chức tôn giáo bất vụ lợi là một thành tựu minh chứng cho sự thấu hiểu luật pháp và cấu trúc xã hội của Thầy. Đó là sự hiện thực hóa triết lý “nhập thế” của Bồ-tát đạo.
Tờ báo Viên Giác (từ 1979) chính là diễn đàn của sự khai phóng. Thông qua ngôn từ, Thầy cùng các vị trong ban biên tập đã chuyển tải những khái niệm triết học thâm sâu như Tánh Không (Sunyata), Vô ngã (Anatta) thành những bài luận sắc bén, giúp người đọc nắm bắt được bản thể luận của đạo Phật mà không bị lạc lối trong các thuật ngữ trừu tượng.
Với phẩm hạnh cao vời và đạo nghiệp hoằng hóa lớn lao, Thầy được suy tôn giữ nhiều trọng trách quan trọng trên trường quốc tế: Phó Chủ tịch Hội đồng Tăng già Thế giới (World Buddhist Sangha Council) và Đệ nhị Chủ tịch Hội đồng Điều hành Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Âu Châu. Trên cương vị đó, Thầy là chiếc cầu nối quan trọng giữa các truyền thống Phật giáo trên toàn cầu.

Tháng 7 năm 2011, tại hội nghị quốc tế ở thủ đô Colombo, Sri Lanka, Hội đồng Tăng già và Chính phủ Sri Lanka đã long trọng tổ chức lễ trao giải thưởng danh dự cao quý đến Thầy. Giải thưởng này được thiết lập nhằm tôn vinh những bậc chân tu có công trạng đặc biệt trong việc truyền bá Chánh pháp tại hải ngoại. Ban đầu, vinh danh các tu sĩ người Sri Lanka hành đạo xứ người, trước những đóng góp vĩ đại của Thầy, Hội đồng Tăng già đã đặc biệt trao tặng, đánh dấu cột mốc tự hào lớn cho Tăng sĩ Việt Nam trên trường quốc tế.
Vào ngày 20 tháng 8 năm 2021, ghi nhận những cống hiến kiệt xuất của Thầy trong việc gắn kết cộng đồng và vun đắp hòa bình xã hội, Tổng thống Cộng hòa Liên bang Đức Frank-Walter Steinmeier đã ký quyết định trao tặng Huân chương Công trạng (Bundesverdienstkreuz / Huân chương Thập tự hạng nhất). Chính phủ Đức, một quốc gia đề cao sự minh bạch và lý tính, đã ghi nhận công lao của Thầy trong việc xây dựng nhịp cầu gắn kết cộng đồng và thúc đẩy hòa bình. Đây chính là bằng chứng đanh thép nhất cho thấy trí tuệ Phật giáo không phải là những lý thuyết xa rời thực tế, mà là một giải pháp trị liệu cho những nỗi đau và xung đột của nhân loại hiện đại.

Không chỉ dừng lại ở công tác hoằng pháp độ sinh, Hòa thượng còn dành trọn tâm huyết cho sự nghiệp bảo tồn và phiên dịch kinh điển thánh giáo. Ngày 10 tháng 05 năm 2021, Đại lão Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ ra Thông bạch cung thỉnh thành lập Hội đồng Hoằng pháp GHPGVNTN, tại Đại hội lần thứ I. Thầy được cung thỉnh đảm nhiệm cương vị Chánh Thư ký.

























